Kiến trúc sư Lê Hiệp : “Một tài năng đặc biệt mà dung dị, hồn hậu”
Ngày mới nhập ngành, nơi giảng đường đại học khi được gặp Thầy, không hiểu sao cảm giác đầu tiên về KTS Lê Hiệp của chúng tôi là: Thầy như một người Mexico, từ ngoại hình đến tinh thần nhiệt đới với những điệu nhảy “baile folklorico” – Có lẽ là do ngoại hình của Thầy quá phiêu lãng, pha chất “tây”. Chúng tôi cũng hình dung sẽ được Thầy dạy thiết kế theo xu hướng “tây” hoá, hiện đại với một khát khao du nhập văn minh mà học trò nào khi nhập môn kiến trúc cũng mong đợi, nhất là ở Việt Nam ta – “Bụt chùa nhà không thiêng” ngay cả trong loại hình kiến trúc!

KTS Lê Hiệp
Thế rồi, khi hướng dẫn thiết kế bảo tàng cùng một thầy giáo từ Romania về, thầy nhìn sang đồ án bên cạnh (không phải do thầy hướng dẫn) và bảo học trò: “Kiến trúc châu Âu không du nhập vào mình “nguyên kiện” được đâu. Em cứ suy nghĩ, đơn giản thế này: Bảo tàng là cái tráp đựng đồ quý, như quan niệm từ ông cha ta mà làm”. Tinh thần đó được hai thầy trò cùng xoay xở, rồi đồ án đó được điểm cao. Các bạn trong lớp xem đồ án này đều thừa nhận sự quen quen, thân thân… trong hình khối rất hiện đại. Từ đó, hình như các trò đều bắt đầu vỡ lẽ “Ồ! Thì ra…”.
Sau này, trong chặng đường hành nghề của mình, tôi không có may mắn được đồng hành với Thầy công trình nào, nhưng cái triết lý “less is more” mà Thầy theo đuổi, với tinh thần “đơn giản hoá những vấn đề phức tạp” để hoá giải những yếu tố bản sắc trong phát triển kiến trúc hiện đại – Không trình bày dạng lý thuyết hàn lâm, mà chứng minh bằng những tác phẩm sáng tác – Đã tỏ ra hữu hiệu, nhất là đối với thể loại công trình tượng đài và biểu tượng.

Tượng đài Bắc Sơn
Với 30 năm làm nhà giáo kiến trúc, KTS Lê Hiệp luôn “đến” với sáng tạo của học trò bằng những lời khuyên nhỏ nhẹ, mộc mạc mà thấu đáo – Cách làm mà chính những người thầy đi trước nơi mái trường ĐH Kiến trúc Hà Nội đã thấu cảm vào Ông. Sự không ràng buộc một hướng tư duy cứng nhắc, không bắt ép một “gu” nào, chủ yếu đối thoại bằng những đồ án năm học cụ thể, đã góp phần đào tạo nên nhiều lớp học trò tài năng cho đất nước. Sâu xa hơn nữa, chính họ học tập được ở Ông một tư cách hành nghề trong trẻo, luôn dấn thân vì sự nghiệp sáng tạo, coi nhẹ hưởng thụ vật chất. Những tác phẩm sáng tạo của thầy trò Ông thời đó cũng đã góp phần kiên định cho tiếng nói bản sắc đích thực được cất lên ở nhiều vùng miền Việt Nam.
Hành trình sáng tạo nghề nghiệp thực sự của Ông lại bắt đầu từ cơ duyên một “tai nạn” nghề nghiệp của một sáng tác tình cờ được công nhận, xếp giải rồi được xây dựng và trở thành biểu tượng thành công chói sáng nhất cho triết lý làm nghề của Ông: Tiếp biến bản sắc dân tộc trong tác phẩm bằng sự toát lên khí chất, tâm hồn Việt Nam, không thể trộn lẫn, không thể “xuất khẩu từ vùng nọ sang vùng kia, hay hoà tan khi ra thế giới”. Tác phẩm này được thiết kế bằng những ngôn ngữ, vật liệu, công nghệ đã hình thành từ truyền thống ngàn đời – Đó chính là Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ đã hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, đặt tại đường Bắc Sơn, Thành phố Hà Nội (sau đây xin gọi tắt là Đài tưởng niệm Bắc Sơn).
Chuyện kể rằng: Khi tình cờ được một nhà điêu khắc mời làm phần kiến trúc cho đồ án tham gia cuộc thi Đài tưởng niệm do TP Hà Nội phát động, Ông bất chợt nảy ra ý tưởng riêng trước khi cuộc thi hết thời gian nộp bài vài ngày. Đó là một ngôi miếu thờ truyền thống đại diện cho phần âm, được gợi tưởng bằng cách “khoét âm bản” trong khối hình hộp có hình thái hiện đại – đại diện cho phần dương của đời sống đương đại. Ông đã cặm cụi dành tâm huyết miệt mài suốt đêm ngày, minh hoạ thành bản vẽ để kịp nộp. Khi chấm thi, Hội đồng gồm lãnh đạo bốn Bộ, cùng hai Đoàn chủ tịch của hai Hội nghề nghiệp chuyên môn dường như cũng đã phát hiện ra một điều gì đó đượm chất tâm linh và sắc Việt, nhưng chưa đủ mức để xếp giải Nhất mà chỉ ở mức giải Nhì. Giải Nhất được trao cho một phương án đài tưởng niệm hình tháp, một kiểu tư duy đã định vị bền chắc với loại hình này. Rồi, tầm quan trọng của công trình đã đưa đến sự quan tâm, ghé xem của người đứng đầu Chính phủ lúc bấy giờ là Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Với tư duy của một nhà lãnh đạo thấm đẫm hồn cốt văn hoá dân tộc, sau khi nghe báo cáo giải Nhất, Thủ tướng đã đề nghị cho xem thêm các đồ án khác. Xem xong, trầm ngâm hồi lâu trước đồ án với khối cô đọng giao hoà “âm – dương” của KTS Lê Hiệp, vị đứng đầu Chính phủ đã đưa ra quyết định chọn phương án này để triển khai xây dựng.

KTS Lê Hiệp và cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt
Sự linh cảm vi diệu của vị đứng đầu Chính phủ như đã “giao hoà”, thấu tâm với người sáng tạo. Khi tác phẩm được hoàn thành và sừng sững cho đến hôm nay, chúng ta càng thấy điều đó là bất diệt, vì Hà Nội đã có một tác phẩm xứng tầm thời đại, ở nơi cao nhất, hội tụ khí thiêng ngàn năm của dân tộc, xứng tầm đại diện cho sự tưởng nhớ công lao vô hạn của các anh hùng liệt sĩ đã có công với đất nước! Cho đến nay, Đài tưởng niệm Bắc Sơn vẫn là một trong số ít biểu tượng hoàn hảo về kiến trúc, góp phần chắp cánh cho Hà Nội tiếp tục theo đuổi mục tiêu Văn hiến – Văn minh – Hiện đại, vươn mình vào kỷ nguyên mới của dân tộc. Người viết bài này thì thì thiển nghĩ rằng: Đài tưởng niệm Bắc Sơn là một tác phẩm thành công đỉnh cao, trong sự kết tinh được chất văn hoá bản địa với sự phát triển tiên tiến hiện đại. Hình tượng ấy, thành công ấy sẽ mãi trường tồn. Với ý tưởng “Không muốn dựng một tượng đài cao lớn hùng vĩ mà xa xôi, chỉ muốn tạo một miếu thờ anh hùng liệt sĩ đã hi sinh thật gần gụi và bình dị – là nơi để người dân nào cũng có thể đến thắp nén hương bày tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn”, tác giả đã tạo nên ngọn nến giao hoà âm dương không bao giờ tắt – Hữu hạn đã trở thành vô hạn thông qua hình tượng biểu đạt của kiến trúc.
Và từ sau “sự cố” này, KTS Lê Hiệp lặng lẽ rời nghiệp dạy học thường nhật để dứt khoát dấn thân vào sự nghiệp hành nghề sáng tạo. Rồi từ đó, loại hình kiến trúc đài tưởng niệm là nơi mà Ông truyền cảm được một cách tinh diệu để biểu đạt thành những công trình hào hoa, rạng rỡ mà thấm đẫm tâm hồn “Uống nước nhớ nguồn” giàu tính nhân bản của Việt Nam.
Sau Đài tưởng niệm Bắc Sơn, KTS Lê Hiệp tiếp tục nhả tơ kiến tạo một cách dung dị, tự nguyện và hết mình cho hàng loạt công trình kiến trúc – điêu khắc tưởng niệm trên mọi vùng miền đất nước. Với tài năng độc đáo và đặc biệt của mình, Ông đã để lại cho đời sống kiến trúc Việt Nam những công trình giá trị bản sắc và hiện đại kết tinh một cách bình dị mà cao quý.
Ta có thể thấy điều đó ở Đài Tưởng niệm tỉnh Tuyên Quang, với hình tượng chắt lọc gợi nhớ: Từ vòm đa Tân Trào nơi suối nguồn cách mạng, hay có thể liên tưởng tới hình ảnh khói lửa của chiến tranh tan kết thành hình tượng đám mây hoà bình.
Đài tưởng niệm Phú Yên nằm trên núi Nhạn là tác phẩm mà chính KTS Lê Hiệp lần thứ 2 được trực diện tương tác nghề với cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Đây cũng là một trong vài tác phẩm mà ông bồi hồi nhất khi nói đến. Hãy tìm đến xem rồi trào xúc cảm với sự lựa chọn, chắt lọc của ông: Từ hình tượng sóng vươn, chim sải cánh… đã được biểu đạt rất tinh tế, cô đọng. Tác phẩm cho chúng ta luôn thấy khắc khoải một nỗi hoài mong: Giá như không có chiến tranh, để không có mất mát hi sinh… cho chim về núi nhạn giữa “rừng mờ sương đêm”, góp xây đắp hoan ca tình yêu đôi lứa trong an hoà, cho những người dân lương thiện, hiền lành được bình yên nơi chốn quê nhà.

Đài tưởng niệm Núi Nhạn
Đài Tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đất mũi Cà Mau, nơi trăm thương ngàn nhớ của Ông lại là một ví dụ về tư duy đột phá trong sáng tạo. Ý tưởng một vòng Việt Nam được ông kết hoa ở đây, trên bộ cột vươn trời bất khuất là một sự cô đọng cần thiết dành riêng cho vùng đất đặc biệt “Đất Mũi”. Bộ mái nhiều lớp cũng dường như là sự hội tụ muôn phương, làm mái “che” cho những điệu hò phương Nam lan toả cùng sông nước. Phần bệ và nền tượng không làm gọn khối mà khá “xuề xoà” như cốt cách dân dã của người miền dễ thương vô cùng… Tất cả đã làm nên một bài ca kiến trúc bất khuất, không bi luỵ khi tưởng nhớ về những đau thương mất mát, luôn hướng về tương lai đất nước, quê hương, xứ sở mạnh giàu.
Vườn tưởng niệm Võ Văn Kiệt lại là một sự thành công khác của KTS Lê Hiệp, khi được triển khai với tinh thần phải làm sao bình dị như người chủ nhân đã ra đi. Sự gợi nhớ rất nhẹ nhàng về tính cách, công lao của “Anh Sáu” đã được Ông gói gọn trọng biểu tượng ngôi sao khoét âm vào phiến đá. Sự thành công của Ông ở tác phẩm này còn được nhân thêm với sự tương tác với người đồng hành là KTS Nguyễn Văn Tất. Khu vườn giờ đây đang rộng mở như tấm lòng Anh Sáu, tấm lòng hào sảng vùng miệt vườn, cho người dân địa phương được tới thưởng ngoạn, viếng thăm và niệm ca người con xuất chúng của xứ sở mình.
Và còn biết những tác phẩm sáng tạo của KTS Lê Hiệp – Chúng ta hãy đi đến, trải nghiệm và ngẫm suy sẽ thấy mình dạt dào niềm biết ơn sự hi sinh của những thế hệ ông cha, để vững bước đi vào tương lai! Và người KTS thì sẽ thêm những lần vỡ vạc về một cách làm kiến trúc bình dị, trong sáng.
Nói về KTS Lê Hiệp và những sáng tạo của Ông, đã có rất nhiều bài viết tâm khảm và sâu sắc. Nhưng sự suy ngẫm về Ông sẽ mãi còn đó. Và, chợt như tôi vừa nhìn thấy dáng đi khoan thai, hơi khuỳnh khoàng của Thầy bên ngoài hành lang nơi mái ấm Hội KTS Việt Nam, vang vọng đâu đây là tiếng cười sảng khoái, vang vọng của Ông – Ngược hẳn với sự khắt khe khi chắt lọc, tiết chế từ tổng thể đến chi tiết cho mỗi tác phẩm kiến trúc của mình.
Ông đã đi xa! Chắc chắn là không ít người sẽ còn nhớ mãi về KTS Lê Hiệp – Một KTS tài năng đặc biệt mà dung dị, hồn hậu đến thế…
KTS Phan Đăng Sơn
Chủ tịch Hội KTS Việt Nam
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 10-2025)
16/04/2026
16/04/2026
16/04/2026
16/04/2026
14/04/2026
13/04/2026