Phát huy các giá trị kiến trúc truyền thống làng xã gắn với phát triển du lịch khu vực nông thôn Việt Nam
Tóm tắt:
Thực tế hiện nay cho thấy xu hướng khai thác thế mạnh từ quỹ di sản kiến trúc truyền thống nông thôn, nhiều địa phương đã hình thành mô hình sản xuất nông nghiệp xanh, sạch, gắn với khai thác du lịch cộng đồng. Các giá trị văn hóa truyền thống làng xã từ chỗ chưa được tôn trọng đúng mức (bởi những khó khăn về kinh tế trong những năm đầu thống nhất đất nước), dần được nhìn nhận lại bởi những quan điểm mang tính Đổi mới kể từ sau năm 1986. Nền kinh tế thị trường đã khôi phục các giá trị của những kiến trúc truyền thống khu vực nông thôn nhưng đồng thời cũng mang đến những thách thức mới khi tất cả được quy đổi ra giá trị kinh tế. Việc hoàn thiện khung pháp lý về quy hoạch, kiến trúc nông thôn gắn với các chương trình xây dựng trình nông thôn mới lẫn chuyển đổi sinh kế của người nông dân (thông qua các sản phẩm hàng hóa và đặc biệt là dịch vụ du lịch) đã cho thấy những thay đổi mang tính đột phá trong quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc truyền thống làng xã gắn với phát triển du lịch khu vực nông thôn Việt Nam.
Dẫn nhập
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân là một chủ đề quan trọng vì đa phần dân số Việt Nam vẫn đang sống ở nông thôn, cư trú trong các làng và sinh kế bằng các nghề nông nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp, nền kinh tế lấy canh nông làm gốc… Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011). Lợi thế so sánh của Việt Nam là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ nông nghiệp, bằng nông nghiệp, mà trước hết và cơ bản là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn (Viên, 2022).
Nông thôn không chỉ là một môi trường kinh tế sản xuất, mà còn là nơi nuôi dưỡng và xây dựng những giá trị văn hóa, cảnh quan sinh tồn và không gian xã hội, tạo nên nền tảng tinh thần và định hình lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt (Dũng, 2024). Hiểu một cách pháp lý và hiện đại hơn, “nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã” (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009) hay “nông thôn là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp” (Quốc hội, 2024).
Kể từ khi thống nhất đất nước năm 1975, đặc biệt sau chính sách Đổi mới năm 1986, trong khoảng hai thập kỷ vừa qua, phát triển tam nông được đặc biệt quan tâm, mà khởi đầu là Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban chấp hành Trung ương khóa X khẳng định nông dân là chủ thể, xây dựng nông thôn mới là căn bản, phát triển toàn diện nông nghiệp là then chốt (Ban chấp hành Trung ương khóa X, 2008), tiền đề cho Chương trình xây dựng nông thôn mới “[…] gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc […]” (Thủ tướng Chính phủ, 2010), tạo nên cơ hội lớn và thúc đẩy sự thay đổi diện mạo nông thôn Việt Nam. Từ đó, kiến trúc nông thôn ngày càng được quan tâm, đặc biệt kể từ khi Luật Kiến trúc được ban hành, Việt Nam cơ bản đã có các quy định, công cụ để quản lý toàn diện việc phát triển kiến trúc, cảnh quan đô thị và nông thôn, bảo vệ di sản kiến trúc truyền thống.
Xây dựng nông thôn hiện đại hỗ trợ tích cực cho sự phát triển du lịch nông thôn thông qua hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, bảo đảm vệ sinh môi trường, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, làng nghề truyền thống… Ngược lại, du lịch nông thôn nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn hiện đại bằng việc tạo thu nhập và sinh kế cho người dân, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ các sản phẩm đặc trưng vùng miền (Dũng, 2024). Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025 đã nêu rõ: Phát triển du lịch nông thôn là một trong những giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm, trên cơ sở thay đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông thôn, góp phần hỗ trợ các địa phương thực hiện hiệu quả, bền vững các tiêu chí nông thôn mới, thúc đẩy sự tham gia tích cực và chủ động của các tổ chức kinh tế vào phát triển kinh tế du lịch nông thôn thông qua liên kết chuỗi giá trị du lịch hiệu quả (Thủ tướng Chính phủ, 2022).
Hệ thống hóa các giá trị văn hóa kiến trúc truyền thống làng xã nông thôn Việt Nam
“Làng” là một thiết chế không gian và xã hội quan trọng ở nông thôn, có thể như một cộng đồng, nhưng cũng như một đơn vị cư trú trên một địa vực nhất định, được hình thành từ ba yếu tố gắn liền và không thể tách rời nhau là nông nghiệp, nông thôn, nông dân (Đức, 2024). Làng mang những đặc trưng riêng biệt của cư dân, của “người làng” (Viên, 2022). Các nghiên cứu đã chỉ ra ba yếu tố cơ bản của làng xã truyền thống Việt Nam: (i) về mặt chính trị là sự tự quản; (ii) về mặt kinh tế là tự cung tự cấp, tự sản tự tiêu; và (ii) về mặt xã hội là thuần nhất, cộng đồng. Cụ thể hơn, làng truyền thống có thể được nhận diện thông qua những đặc trưng: (i) Mỗi làng có một địa vực nhất định coi như không gian sinh tồn, (ii) Cư dân trong làng là thành viên của một cộng đồng, (iii) Các thiết chế văn hóa của làng gồm thiết chế vật chất và phi vật chất, (iv) Làng được quản lý tự quản thông qua hương ước.
Sự khác biệt về vấn đề sở hữu ruộng đất làng xã của mỗi vùng miền có mối quan hệ đến những đặc trưng biểu hiện trong văn hóa ứng xử, trong tổ chức cộng đồng lẫn tâm lý con người cá nhân:
(1) Làng miền Bắc có đặc trưng của dạng tiểu nông tư hữu: Mẫu hình tổ chức không gian cư trú, sinh hoạt, và sản xuất từ quá trình định cư lâu dài đã phản ánh tính tối ưu trong thiết chế quy hoạch đồng thời cũng cho thấy bộ máy tổ chức và vận hành làng xã có thể ứng phó các tình huống do thực tế của lịch sử cư trú đặt ra. Đó là sự ứng xử của những con người gắn bó trên một vùng đất cũ, nặng truyền thống, cũng như cảm nhận sâu sắc những gì đã hình thành trên nền ứng xử ấy.
(2) Làng miền Trung có đặc trưng của dạng tiểu nông công hữu: Miền Trung hình thành làng xã từ việc tiếp nhận vùng đất mới, nhưng lại trên cái cũ của lớp cư dân tiền trú, cho nên từ việc kế thừa, kết hợp kinh nghiệm truyền thông và giao lưu văn hóa đã hình thành sự tiếp biến cũng như thích ứng nhanh chóng bằng những đúc kết cho riêng mình để tồn tại trong điều kiện sống không mấy thuận lợi như miền Bắc và miền Nam.
(3) Làng miền Nam có đặc trưng là đại điền chủ và tá điền: Làng xã miền Nam hình thành thế hội nhập trên vùng đất mới thiếu điều kiện kế thừa nhưng lại được thiên nhiên ưu đãi, cho nên phải linh hoạt và năng động đối phó với rất nhiều hoàn cảnh không thể lường trước.
Kiến trúc truyền thống làng xã nông thôn Bắc Bộ
Vùng châu thổ Bắc Bộ – một khu vực có diện tích hạn chế nhưng dân số lại rất đông bởi đất đai màu mỡ, thuận lợi cho nông nghiệp. Làng xã ở Bắc Bộ với đặc điểm người dân sống quần cư với mật độ dân số cao (Định, 2019). Hầu hết là làng nông nghiệp, tuy nhiên, do mật độ dân số đông, diện tích canh tác ít nên nhiều làng có thêm các nghề phụ (Định, 2019).
Chính vì vậy, làng xã truyền thống ở Bắc Bộ là nơi chứa đựng nhiều giá trị di sản văn hóa quý giá của dân tộc, có thể chia thành 3 nhóm chính (Cường P. H., 2024):

Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Phần (thôn Thuận Hoà, xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng) – công trình độc đáo được khởi dựng vào thời Nguyễn (năm Tự Đức thứ 26 – 1873) và được trùng tu vào năm 1926
(1) Nhóm các công trình tôn giáo, tín ngưỡng: phục vụ đời sống tâm linh, các hoạt động văn hóa, lễ hội, gồm đình, chùa, đền, miếu, phủ, quán thờ…;
(2) Nhóm công trình nhà ở truyền thống: phục vụ cuộc sống thường ngày gắn với các hoạt động sản xuất, tạo sinh kế cho người dân, gồm nhà ở thuần nông, nhà ở kết hợp nông nghiệp với sản xuất thủ công nghiệp thông qua các nghề truyền thống, nhà ở gắn với hoạt động thương mại, dịch vụ…;
(3) Nhóm công trình công cộng truyền thống: phục vụ các hoạt động dân sự, vận hành đời sống thường nhật của người dân, gồm cổng làng, ao làng, giếng làng, cầu đá, quán, điếm…
Kiến trúc truyền thống làng xã nông thôn Trung Bộ
Miền Trung chính thức nằm trong địa giới của Đại Việt từ thế kỉ 15 – 18, bởi các cuộc chiến tranh, kéo theo sau đó những cuộc di dân quy mô lớn mang tính điền thể nhiều hơn là cộng cư, xen cư như trước. Miền Trung thể hiện rõ nét là một vùng đệm mang tính trung gian. Nơi đây phần nào đã chịu sự ảnh hưởng từ các yếu tố tự nhiên vào các thành tố văn hóa vùng, thể hiện qua các loại hình văn hóa, tập tục xã hội nói chung và cuộc sống trong các làng, xã nói riêng. Các làng nghề nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công có hoạt động đan xen, hỗ trợ nhau do vùng Trung Bộ cấu thành từ nhiều tiểu đồng bằng nhỏ hẹp, bám sát vào các chân núi ven biển. Khí hậu không được thuận lợi và tính chất văn hóa vùng miền chịu sự chi phối mạnh của điều kiện tự nhiên vốn luôn khắc nghiệt này.
Sự hình thành các đơn vị cư trú ở đây, dù theo phương thức khai hoang hay kế thừa của người tiền trú, chủ yếu cũng chỉ mới dừng lại ở mức xác định mốc giới chủ quyền. Tính khép kín và tự trị có phần phai nhạt hơn khiến làng miền Trung “mở” hơn trong sinh cảnh mà con người cần phải dựa vào núi, đối diện với biển để tồn tại. Mặt khác, việc tổ chức không gian làng cũng ảnh hưởng từ giao lưu văn hóa, tiếp thu những kinh nghiệm ứng xử của người tiền trú. Tuy nhiên, tổ chức theo mối quan hệ huyết tộc lại được nhấn mạnh và đề cao, chi phối nhiều đến sinh hoạt của từng bộ phận dân cư trong cộng đồng.

Mái nhà rường truyền thống điển hình ở làng cổ Phước Tích (hiện thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, TP. Huế) được thành lập từ năm 1470, dưới thời vua Lê Thánh Tông
Trong quá trình thiên di, thiết chế văn hóa đình làng được mang theo và thực hành trên vùng đất mới. Những gian truân và thử thách buổi đầu khai phá đã không cho phép thế hệ di dân đầu tiên thực hiện những hoài vọng về ngôi đình uy nghiêm. Buổi đầu, cư dân đã lập đình làng với phương thức rất đặc biệt – đình trần/nền đình/đình lộ thiên (đình không có nhà) (Bình, 2022). Về sau, khi cuộc sống ổn định hơn, các đình làng mới được xây dựng kiên cố. Kiến trúc nhà ở truyền thống miền Trung cũng thể hiện rõ sự hòa nhập và thích ứng tối đa với điều kiện tự nhiên đặc thù và khắc nghiệt, cũng như văn hóa lối sống của cư dân bản địa. Về cơ bản, kiến trúc nhà ở truyền thống vùng này là sự chuyển đổi thích ứng từ Bắc Bộ để phù hợp với điều kiện khí hậu và tự nhiên vùng đất mới (Phương, 2024b).
Kiến trúc truyền thống làng xã nông thôn Nam Bộ
Làng Nam Bộ lại “mở” hoàn toàn bởi mạng lưới sông ngòi chằng chịt nơi đây, ảnh hưởng đến việc “quy hoạch” hệ thống nhà cửa trải dài và mở rộng dọc theo các tuyến đường thủy, khác với kiểu không gian co cụm thành làng xóm khép kín như miền Bắc. Với tính cách phóng khoáng của người Nam Bộ, nơi đây cũng dễ tiếp thu với văn hóa bên ngoài. Tuy nhiên, dù hay biến động nhưng mỗi làng vẫn có một ngôi đình thờ Thành hoàng, dù đó chỉ là một vị thần chung chung. Hàng năm, họ lại tụ họp lại để tổ chức lễ hội tại đình làng với quy mô không hề nhỏ. Tình làng nghĩa xóm được họ coi trọng thứ hai trong bậc thang ưu tiên khi chọn nơi cư trú: “Nhất cận thị, nhị cận lân, tam cận giang, tứ cận lộ, ngũ cận điền”.
Có thể nói, làng Nam Bộ, cùng với văn hóa sông nước đã mang đến các đặc trưng (Thêm, 2004, Thêm, 2022):
(1) Về cộng đồng dân cư: Nhờ thiên nhiên ưu đãi, họ không nhất thiết phải sống quần tụ, không bị gắn chặt với quê hương và cộng đồng, làng xã, có thể rời làng tìm đến những chỗ dễ làm ăn hơn, những miền đất chưa khai phá. Họ cũng không phân biệt dân chính cư hay ngụ cư do đều là người tứ xứ, không có họ nào đủ người để trở thành đa số.
(2) Về quản lý hành chính: Làng Nam Bộ hầu như không có hương ước và không có những tổ chức kiểu như giáp, phường, hội… như ở làng xã Bắc và Trung Bộ. Tuy nhiên, tính cộng đồng vẫn được coi trọng ở một mức độ nhất định.

Hình 3. Nhà cổ của ông Huỳnh Kim Tiến (xã Phước Hậu, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long) hiện đang được khai thác làm điểm tham quan du lịch
(3) Về chế độ đất đai và tổ chức không gian: Làng không có ruộng công, ruộng khẩn hoang được đăng ký thành sở hữu riêng. Không gian có tính mở, không có lũy tre dày đặc bao quanh mà tổ chức thành tuyến trải dài theo các trục giao thông.
“Trong dòng chảy lịch sử phương Nam, không chỉ linh hoạt trong việc thay đổi kiến trúc để thích nghi với các điều kiện tự nhiên và xã hội, mà con người đã lựa chọn thiên hướng cởi mở về mặt tư duy, để hình thành nên kiến trúc có độ hòa trộn cao mang dấu ấn từ nhiều nền văn hóa và thời kỳ lịch sử” (Hiếu, và những tác giả khác, 2022). Sự phong phú của thảm thực vật kéo theo sự lựa chọn và sử dụng vật liệu trong xây dựng, được con người khéo léo tận dụng cho các mục đích khác nhau. Làng xã truyền thống miền Nam trở thành “một bảo tàng kiến trúc với nhiều di sản ký ức quý giá, một kho tàng để chúng ta có thể tái khám phá, tái cảm nhận những cảm thức tinh thần của tiền nhân” (Hiếu, và những tác giả khác, 2022).
Những chuyển biến trong cách thức ứng xử với kiến trúc truyền thống khu vực nông thôn Việt Nam
Bởi những lý do khách quan lẫn chủ quan như chiến tranh, sự khác biệt về hệ tư tưởng, cũng như mong muốn hướng đến một cuộc sống mới “dứt bỏ” quá khứ, trước năm 1975, nhiều di sản kiến trúc, đặc biệt là kiến trúc truyền thống khu vực nông thôn đã không được đánh giá đúng mức, thậm chí là bị tàn phá bởi được xem là hiện thân của quá khứ, của chế độ cũ – “Thời kỳ kháng Pháp (1946 – 1954) là thời kỳ tàn phá dữ đội nhất đối với các di tích cũng như đời sống văn hóa của các làng, đình, chùa, đển, miếu bị đốt phá, tháo dỡ…” (Châm, 2009). “Mấy chục năm tập thể hóa ở nông thôn, trừ nhà thờ (Thiên chúa giáo), và chùa (Phật giáo), còn hầu như đa số các công trình văn hóa cộng đồng của các lễ hội truyền thống hoặc bị phá vỡ hoặc đã trở nên hoang phế mục nát” (Khiếu, 1997).
Trước khi có Luật Di sản văn hóa 2001
Thắng lợi năm 1975 đã thống nhất đất nước, mở ra giai đoạn cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, cơ chế tập trung, kế hoạch hóa cao độ đã bộc lộ nhiều khuyết tật, tình hình kinh tế – xã hội đối mặt với rất nhiều khó khăn, các hiện tượng tiêu cực trong xã hội xuất hiện, công bằng xã hội bị vi phạm, pháp luật, kỷ cương không nghiêm minh (Tuyết, 2023). “Trong bối cảnh đó, nhiều người làm công tác quản lý ở các địa phương không quan tâm đến việc tổ chức, phục hồi các hình thức sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng dân gian, trong đó có các lễ hội truyền thống tại các làng xã ở nông thôn nước ta” (Lê, 2001). Thực tế là nhiều kiến trúc truyền thống như đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ dòng họ… gắn với các lễ hội, đình đám, tập tục… bị xem là mê tín dị đoan. Tại nhiều làng xã, kiến trúc truyền thống bị phá hủy để lấy gỗ, gạch, ngói xây dựng trường học và các công trình công cộng, hoặc bị thay đổi chức năng như đình chùa chuyển thành nhà kho, hội trường của hợp tác xã. Nhiều giá trị truyền thống bị phai nhạt, lãng quên, nhiều di sản có giá trị về lịch sử, tôn giáo và nghệ thuật bị mất hẳn, giờ đây chỉ còn lưu lại trong ký ức của dân làng, tạo nên một giai đoạn “chìm xuồng” của văn hóa làng (Huấn, 2010).
Năm 1986, thời điểm Việt Nam bắt đầu đường lối Đổi mới, nhất là trong tư duy, mà trước hết là tư duy kinh tế được điều tiết theo thị trường. Chính sự thay đổi quan trọng về tư duy này đã kéo theo sự xuất hiện thị trường bất động sản khi đất đai và nhà cửa được “hàng hóa hóa” và trở nên “có giá”, thậm chí đó là những tài sản có giá trị cao và thu lại lợi nhuận lớn đối với người dân khi mua bán trên thị trường. Điều này đã khiến hệ thống di sản bước vào một giai đoạn thử thách mới khi các giá trị di sản được quy đổi ra giá trị bất động sản.
Phần nhiều các kiến trúc di sản có giá trị nhưng chưa được công nhận chính thức là di tích văn hóa – lịch sử, đã được “định giá” bởi địa thế tốt, đất đai rộng rãi. Giá trị kiến trúc truyền thống các làng xã, mặc dù vẫn là “vô giá” nhưng đã chuyển từ nghĩa “không có giá trị kinh tế” trở thành “rất quý, rất có giá trị, đến mức không thể định được một giá nào cho xứng đáng”. Mặt khác, nền kinh tế thị trường đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, nhu cầu xã hội ngày càng thay đổi dẫn đến tình trạng vi phạm các công trình kiến trúc truyền thống, nhất là ở khu vực nông thôn, nơi việc quản lý còn nhiều lỏng lẻo. Theo chiều ngược lại, giai đoạn này cũng cho thấy sự phục hưng phần nào các kiến trúc truyền thống làng xã khi đời sống kinh tế được cải thiện, “phú quý sinh lễ nghĩa”. Tuy nhiên, nhiều công trình “bỗng dưng” bị làm mới cùng với hiện tượng tự ý tu sửa.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/07/1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định nhiệm vụ “Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa” – một trong những tiền đề quan trọng ra đời Luật Di sản văn hóa năm 2001 với mục tiêu “để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, đáp ứng nhu cầu về văn hoá ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá thế giới”. Nhờ có khung pháp lý, hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa bắt đầu được định hình, đưa vào khuôn khổ.
Từ Luật Di sản văn hóa 2001 đến Luật Kiến trúc 2019
Luật Di sản văn hóa 2001 huy động toàn dân tham gia vào việc giữ gìn, bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa, đặc biệt là hệ thống các di sản kiến trúc làng xã khu vực nông thôn, mở ra một thời kỳ mới – thời kỳ tôn vinh di sản văn hóa nói riêng và tôn vinh văn hóa nói chung. Quyền tiếp cận văn hóa cũng được thể hiện tại Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa”.
Đây cũng là thời kỳ chứng kiến sự phục hồi mạnh mẽ các giá trị truyền thống của làng xã (Huấn, 2010):
(1) Phục dựng đình, chùa, đền, miếu và xu hướng hưng công mới: Như một nhu cầu tâm linh tất yếu hay một sự đòi hỏi về cân bằng tín ngưỡng, niềm tin trong cuộc sống, trước kia, đình, chùa, quán, miếu… bị phá huỷ, thì ngày nay lại có nhu cầu khôi phục, xây dựng lại.
(2) Phục hồi lễ hội: Những sinh hoạt lễ hội cũng được tái lập theo như là một không gian cộng cảm, cộng tình và cộng mệnh của đông đảo nhân dân trong làng.

Phục hồi các lễ hội dân gian gắn với các không gian kiến trúc truyền thống và sinh hoạt thường ngày của người dân nông thôn
(3) Phục hồi các sinh hoạt dòng họ: Khi điều kiện kinh tế khá lên, nhiều hoạt động như xây dựng từ đường, mộ tổ, thành lập ban liên lạc, tổ chức lễ kỷ niệm dòng họ… cũng được thực hiện.

Luật Kiến trúc 2019 đã giúp nhiều công trình kiến trúc có giá trị được bảo vệ, vẫn tiếp tục có cuộc sống riêng mà không bị “bảo tàng hóa”
(4) Phục hồi hương ước: Hương ước mới được soạn thảo dựa trên những hương ước cổ nhưng được cập nhật theo bối cảnh đời sống mới
Quá trình phục hồi các giá trị truyền thống này đã thổi một luồng gió mới vào các kiến trúc truyền thống khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, liên quan đến hoạt động quy hoạch xây dựng nông thôn, mặc dù các nội dung quy hoạch sử dụng đất, tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan và quy định quản lý quy hoạch tác động mạnh đến việc bảo tồn các di sản làng xã thông qua việc khoanh vùng các di sản, định rõ chức năng và các định hướng cải tạo, bảo tồn công trình kiến trúc nhưng lại chưa được quy định mang tính pháp lý, bắt buộc, chưa cụ thể, nhất là với các di sản chưa được công nhận là di tích. Sự quan tâm đến vấn đề di sản ở từng địa phương cũng khác nhau. Thực tế, di sản làng xã truyền thống không thể bảo tồn theo hình thức “bảo tàng hóa” mà nó là các di sản sống, có giá trị với cuộc sống đương đại và cũng thay đổi theo yêu cầu của cuộc sống, cần phải có một cách tiếp cận bảo tồn mới.
Vì vậy, Luật Kiến trúc ra đời năm 2019 đã đề cập đến một khái niệm mới – “Công trình kiến trúc có giá trị” – Bao gồm cả công trình đã được xếp hạng và chưa được xếp hạng đều là đối tượng cần được quản lý và bảo tồn, phát huy các giá trị, là vốn quý và cơ sở căn bản quan trọng để tạo lập bản sắc trong đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân (Phương, 2024a).
Từ Luật Kiến trúc 2019 đến Luật Di sản văn hóa 2024
Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021 đã nhấn mạnh: “Quan tâm hơn nữa đến việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các vùng, miền, của đồng bào các dân tộc […]”. Bên cạnh đó, Ðịnh hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050 theo Quyết định số 1246/QÐ-TTg ngày 19/07/2021 đề ra những mục tiêu cụ thể, nhất là hoàn thành việc xây dựng Quy chế quản lý kiến trúc tại đô thị và nông thôn khi sức ép ngày càng gia tăng từ đô thị hóa và vấn đề hiện đại hóa nông thôn đặt ra yêu cầu cấp thiết với việc quy hoạch, bảo tồn kiến trúc nông thôn. Thách thức lớn nhất mà các công trình kiến trúc truyền thống có giá trị ở khu vực nông thôn phải đối mặt hiện nay chính là nguy cơ bị biến dạng, xuống cấp hoặc công năng không còn phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại, do đó có thể bị tổn hại và mai một bất cứ lúc nào. Chỉ thị số 4/CT-TTg ngày 07/02/2023 đã quan tâm đến vấn đề quy hoạch kiến trúc nông thôn, trong đó kế thừa và phát huy giá trị di sản kiến trúc truyền thống, phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế – xã hội.
Gần đây nhất, năm 2024, Luật Di sản văn hóa mới được thông qua bởi cụ thể hóa từ ba chính sách: (1) Hoàn thiện các quy định về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; (2) Hoàn thiện các quy định về thực hiện phân cấp, phân quyền quản lý nhà nước về di sản văn hóa phù hợp với thực tiễn; (3) Tăng cường cơ chế, chính sách thúc đẩy xã hội hóa và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Điều này đáp ứng mục tiêu “phát huy vai trò động lực của văn hóa, thể thao và du lịch đối với sự phát triển bền vững đất nước”.
Mối liên hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị kiến trúc truyền thống với phát triển du lịch nông thôn
Như vậy, cùng với những biến đổi mạnh mẽ của đời sống kinh tế – xã hội ở khu vực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bức tranh văn hóa làng cũng có sự biến đổi đa dạng, phức tạp, từ diện mạo, cảnh quan đến lối sống, các phong tục, tập quán, quan hệ xã hội, cách thức tiếp cận thông tin và giải trí. Một quá trình chuyển đổi cơ cấu văn hóa tinh thần đang diễn ra do những biến đổi sâu sắc của đời sống kinh tế – xã hội, chứa đựng sự pha trộn, đan xen giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại, nông nghiệp và công nghiệp, nông thôn và đô thị… cũng như làm nảy sinh nhiều vấn đề cần quan tâm (Cường T. V., 2021). Bảo tồn các di sản văn hóa của làng truyền thống diễn ra trong bối cảnh xã hội có sự chuyển biến nhanh, dòng chuyển cư mạnh mẽ làm phá vỡ cấu trúc tổ chức dân cư vốn có bởi xu hướng “bê tông hóa nông thôn” và “phố hóa làng mạc”, và cứ đà này, đến một lúc nào đó, làng sẽ tan biến (Viên, 2022). Điều này đòi hỏi phải có những giải pháp mang tính tổng thể và liên ngành. Việc xây dựng một mô thức ứng xử để bảo tồn và phát triển bền vững các giá trị làng xóm truyền thống cần sự nỗ lực rất lớn từ nhiều phía (Đức, 2024).

Đô thị hóa và hiện đại hóa luôn gây sức ép lên việc bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc làng xã truyền thống khiến chúng càng trở nên mong manh
Khai thác quỹ di sản kiến trúc truyền thống nông thôn, nhiều địa phương trong cả nước đã hình thành mô hình sản xuất nông nghiệp xanh, sạch gắn với khai thác du lịch cộng đồng. Việc người dân tham gia vào hoạt động du lịch chứng tỏ lối nghĩ cởi mở, tạo nên một mô hình có thu nhập kinh tế mới góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn. Có thể nói, kinh tế thuần nông giảm đi, thay vào đó là sự chuyển dịch sang công nghiệp và dịch vụ làm năng suất lao động nông nghiệp tăng lên, đời sống của người nông dân được cải thiện. Khu vực nông thôn đang chứng kiến sự thay đổi về phương thức hoạt động và mục tiêu kinh tế, lồng ghép đa mục đích, đa ngành nhằm khai thác hiệu quả lợi thế địa phương kết hợp giữa quản lý tài nguyên thiên nhiên với môi trường và sinh kế bền vững (Tuyến, 2019).
Tuy định nghĩa chưa được pháp lý hóa chính thức trong Luật Du lịch, nhưng thực tế ở Việt Nam cho thấy du lịch nông thôn gắn với quy mô kinh doanh nhỏ, không gian mở, được tiếp xúc trực tiếp và hòa mình vào thiên nhiên, dựa trên những đặc điểm tiêu biểu, những di sản văn hóa xã hội truyền thống ở làng xã… Nói cách khác, du lịch nông thôn khai thác các giá trị nông thôn như một nguồn tài nguyên, mang tính đặc trưng về văn hóa, lối sống truyền thống làng quê gắn với lao động sản xuất nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu trải nghiệm của du khách (Quân, 2021). Luật Du lịch 2017 cũng xác định hai loại tài nguyên du lịch (Quốc hội, 2017) là: (1) Tài nguyên du lịch tự nhiên; (2) Tài nguyên du lịch văn hóa. Như vậy, kiến trúc truyền thống được xem như một trong những tài nguyên du lịch văn hóa quan trọng trong du lịch nông thôn. Do đó, việc khuyến khích và hỗ trợ kỹ thuật cho việc bảo tồn, tái sử dụng các kiến trúc truyền thống nông thôn thông qua việc gắn với các hoạt động du lịch là thực sự cần thiết. Như vậy, kiến trúc và du lịch luôn có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ. Các công trình kiến trúc thông qua hình thức biểu đạt, kể những câu chuyện đáng giá để thu hút du khách (Hồng, 2022).

Du lịch cộng đồng giúp người dân nông thôn có động lực trong việc gìn giữ các nghề nông nghiệ, thủ công nghiệp lẫn bảo tồn và phát huy các giá trị kiến trúc, cảnh quan làng xã truyền thống
Kết luận
Các giá trị văn hóa truyền thống làng xã, từ chỗ chưa được tôn trọng đúng mức bởi những khó khăn về kinh tế trong những năm đầu thống nhất đất nước, đã dần được nhìn nhận lại bởi những quan điểm mang tính Đổi mới kể từ sau năm 1986. Nền kinh tế thị trường đã khôi phục các giá trị của những kiến trúc truyền thống khu vực nông thôn nhưng đồng thời cũng mang đến những thách thức mới khi tất cả được quy đổi ra giá trị kinh tế. Việc hoàn thiện khung pháp lý về quy hoạch, kiến trúc gắn với các chương trình xây dựng trình nông thôn mới lẫn chuyển đổi sinh kế của người nông dân, thông qua các sản phẩm hàng hóa và đặc biệt là dịch vụ du lịch đã cho thấy những thay đổi mang tính đột phá trong quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc truyền thống nông thôn.

Kiến trúc nhà sàn của đồng bào Tày ở Làng văn hóa du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn (huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn) luôn hấp dẫn khách du lịch khám phá, trải nghiệm
Từ đó, một số kết luận có thể rút ra khi nhìn lại chặng đường 50 năm chuyển biến trong quan điểm khai thác và phát huy các giá trị kiến trúc truyền thống làng xã gắn với phát triển du lịch khu vực nông thôn Việt Nam như sau:
(1) Du lịch nông nghiệp và nông thôn ngày càng trở thành một xu hướng du lịch mới tại Việt Nam bởi hiệu quả mang lại cho những cộng đồng nông dân cả trên phương diện kinh tế lẫn thôi thúc họ lưu giữ lại các giá trị văn hóa truyền thống.
(2) Các làng xã nông thôn đang trở thành một nguồn tài nguyên quan trọng trong phát triển du lịch, bởi sự hấp dẫn không chỉ kiến trúc truyền thống nông thôn mà còn thể hiện qua sự gắn kết với bối cảnh, môi trường tự nhiên và xã hội.
(3) Giá trị kiến trúc truyền thống nông thôn được xét trên hai cấp độ là (i) các giá trị của bản thân kiến trúc và (ii) là các giá trị khi các kiến trúc được gắn kết với nhau trong cộng đồng làng xã.
(4) Những kiến trúc truyền thống ngày càng mai một trước xu hướng kiên cố hóa, bền vững hóa và “mới hóa” bằng những vật liệu xây dựng hiện đại với những kiểu cách kiến trúc mới.
(5) Bắt đầu xuất hiện các hoạt động phát triển du lịch cộng đồng, du lịch nông thôn dựa trên việc khai thác giá trị nhà truyền thống nhưng đa phần theo kiểu tự phát, “nghĩ gì làm nấy”, thiếu chiến lược, thiếu mô hình phát triển.
(6) Chưa nhiều các đề tài nghiên cứu liên ngành giữa kiến trúc truyền thống nông thôn và phát triển du lịch nông thôn khiến hai lĩnh vực này vẫn hoạt động riêng rẽ, không có tính kết nối và không có mục tiêu cụ thể, dẫn đến tình trạng một số kiến trúc truyền thống nông thôn “bảo tồn vị bảo tồn” chứ không phải “bảo tồn vị nhân sinh”, làm giảm đi giá trị của các hoạt động bảo tồn.
PGS.TS.KTS Trần Minh Tùng*
(Theo Tạp chí kiến trúc)
*Nhóm chuyên môn Kiến trúc dân dụng, Khoa Kiến trúc và Quy hoạch,
Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
Ghi chú
– Bài báo là một phần kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học và công nghệ “Nghiên cứu bảo tồn và phát huy các giá trị nhà truyền thống nông thôn gắn với phát triển du lịch miền Trung” thuộc Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 (Đợt 2).
Tài liệu tham khảo
[1] Ban chấp hành Trung ương khóa X (2008, 08 05): Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 – Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Hà Nội: Ban chấp hành Trung ương khóa X;
[2] Bình, N. T. (2022, 10 05): Trung tâm Quản lý Di tích và Bảo tàng tỉnh Quảng Trị – Được truy lục từ Đình trần – nét văn hoá đặc trưng trong kiến trúc đình làng Quảng Trị: https://trungtamquanlyditichvabaotangquangtri.vn/ nghiencuu/baiviet/dinh-tran-net-van-hoa-dac-trung-trong-kien-truc-dinh-lang-quang-tri/227;
[3] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009): Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/08/2009. Thông tư hướng dẫn triển khai thực hiện Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới – Hà Nội: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
[4] Châm, N. T (2009): Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (Trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) – Hà Nội: NXB Văn hóa Thông tin;
[5] Cường, P. H (2024): Đánh giá tiềm năng di sản kiến trúc và cảnh quan nông nghiệp, nông thôn để phát triển du lịch – Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, 247;
[6] Cường, T. V (2021): Những biến đổi cơ bản trong văn hóa làng hiện nay. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 482 (12-2021);
[7] Dũng, H. T (2024, 02 01): Tạp chí Quản lý Nhà nước – Được truy lục từ Xây dựng nông thôn hiện đại theo tinh thần Nghị quyết XIII của Đảng: https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/02/01/xay-dung-nong-thon-hien-dai-theo-tinh-than-nghi-quyet-xiii-cua-dang/;
[8] Định, N. V (2019): Làng Việt ở Châu thổ Bắc Bộ – Tạp chí Giáo dục Nghệ thuật (31/2019), 17-20;
[9] Đức, V. H (2024): Làng xã Hà Nội – Thực trạng, bảo tồn và phát triển – Tạp chí Kiến trúc Việt Nam (252), 53-58;
[10] Hiếu, T. T., Nghĩa, N. T., Nguyên, V. A., Tuấn, T. N., Thành, N. C., Linh, N. D., & Tiến, P. N (2022): Tản mạn kiến trúc Nam Bộ – Một biên khảo về kiến trúc dân dụng miền Nam (từ cuối thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20) – Hà Nội: NXB Nhã Nam, NXB Thế giới;
[11] Hồ Chí Minh toàn tập: (2011). Tập 4: 1945-1946 (Xuất bản lần thứ tư) – Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật;
[12] Hồng, N. V (2022): Tác động của kiến trúc đến du lịch – Tạp chí Kiến trúc (10.2022), 72-76;
[13] Huấn, Đ. D (2010): Về sự phục hồi các giá trị truyền thống làng xã- Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 2.2010;
[14] Khiếu, N. L (1997): Phục hồi văn hóa truyền thống ở nông thôn – Mấy vấn đề cần quan tâm – Tạp chí Xã hội học (3-1997);
[15] Lê, N. Q (2001): Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ – Hà Nội: NXB Khoa học xã hội.
[16] Phương, P. H (2024a): Quản lý công trình kiến trúc có giá trị từ kinh nghiệm quốc tế đến định hướng thực tiễn tại Việt Nam – Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, 248+249 (02/2024), 32-35;
[17] Phương, P. H. (2024b, 10 08): Tạp chí Kiến trúc Việt Nam – Được truy lục từ Kế thừa giá trị xanh, bền vững, sinh thái từ kiến trúc nhà ở truyền thống bản địa cho nhà ở thấp tầng khu vực duyên hải ven biển miền Trung: https://vietnamarchi.vn/ke-thua-gia-tri-xanh-ben-vung-sinh-thai-tu-kien-truc-nha-o-truyen-thong-ban-dia-cho-nha-o-thap-tang-khu-vuc-duyen-h-2007.html;
[18] Quân, N. (2021, 08 05): Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam – Được truy lục từ Nhận diện các loại hình du lịch nông thôn: https://vietnamtourism.gov.vn/ post/37368;
[19] Quốc hội (2017): Luật số 09/2017/QH14 ngày 19/06/2017. Luật Du lịch. Hà Nội: Quốc hội;
[20] Quốc hội (2024): Luật số 47/2024/QH15 ngày 26/11/2024. Luật Quy hoạch Đô thị và Nông thôn. Hà Nội: Quốc hội.
[21] Thêm, T. N (2004): Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam – TP. HCM: NXB TP. HCM;
[22] Thêm, T. N (2022): Cơ sở văn hóa Việt Nam – TP.HCM: NXB ĐH Quốc gia TP.HCM;
[23] Thủ tướng Chính phủ (2010, 06 04): Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010. Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Hà Nội: Chính phủ;
[24] Thủ tướng Chính phủ (2022, 08 02): Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 02/08/2022. Quyết định phê duyệt Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025. Hà Nội: Chính phủ;
[25] Tuyến, N. T (2019): Biến đổi văn hóa ở nông thôn Việt Nam hiện nay – Tạp chí Văn học Nghệ thuật, 425(11-2019);
[26] Tuyết, N. T (2023, 10 12): Tạp chí điện tử Lý luận Chính trị. Được truy lục từ Thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam giai đoạn 1975-1986: https://lyluanchinhtri.vn/thuc-hien-muc-tieu-doc-lap-dan-toc-va-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-giai-doan-1975-1986-47.html;
[27] Viên, T. Đ (2022, 09 07): Tạp chí Cộng sản điện tử. Được truy lục từ Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và vị thế của người nông dân: https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/nghi-quyet-ve-nong-nghiep-nong-dan-nong-thon-va-vi-the-cua-nguoi-nong-dan.
16/04/2026
16/04/2026
16/04/2026
16/04/2026
14/04/2026
13/04/2026